Am Ngọa Vân - Nơi Trần Nhân Tông hóa Phật
Am Ngọa Vân nằm trong khu di tích Ngọa Vân - Hồ Thiên thuộc xã Bình Khê và An Sinh - Đông Triều - Quảng Ninh. Năm 2008 nhà khảo cổ Nguyễn Văn Anh đã phát hiện Am Ngọa Vân mới chính là nơi
Trần Nhân Tông viên tịch và hóa phật chứ không phải tại Yên Tử như chúng ta lầm tưởng trước đây
Đây là một khẳng định hoàn toàn có cơ sở khoa học. Phát hiện này đã được các nhà khảo cổ chính thức công nhận trong cuộc hội thảo
"Đông Triều với lịch sử nhà Trần" tháng 10/2008
Cụm di tích này còn có đến 8 lăng mộ của các vua nhà Trần Thái miếu nhà Trần và nhiều các di tích khác liên quan đến Trần Nhân Tông và các vua Trần
Chính vì vậy, khu tâm linh này nhanh chóng được sự quan tâm của nhà nước.Khu tâm linh này đã được nhà nước xếp hạng Di Tích Lịch sử cấp đặc biệt
Nhờ phát hiện khoa học này khu tâm linh này nhanh chóng được quy hoạch và xây dựng.
Một con đường mới một tam quan hoành tráng tòa Thái Miếu - nơi thờ tổ của của nhà Trần Đền An Sinh, Chùa Ngọa Vân đã nhanh chóng được xây dựng
Các lăng mộ vua Trần nhanh chóng được quy hoạch chuẩn bị xây dựng. Một con đường nối các lăng vua Trần đã được bắt đầu được xây dựng
Một hệ thống cáp treo hoành tráng đã hoàn thiện để đưa du khách lên thăm lăng mộ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên Am Ngọa Vân và Chùa Ngọa Vân trên ngọn núi cao chót vót, quanh năm phủ sương mờ. Cái tên Ngọa Vân (Mây nằm) có lẽ bắt nguồn từ cảnh mây giăng quanh năm bao phủ ngọn núi linh thiêng này.
Một mai thôi nơi đây trở thành một chốn tâm linh linh thiêng đặc sắc. Về nơi đây, chúng ta không chỉ thưởng ngoạn một khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, sơn thủy hữu tình và còn được chiêm bái nơi Phật Hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn - nơi gốc của Thiền Phái Trúc Lâm nổi tiếng trong phật giáo. Nơi đây sẽ là một chốn tâm linh: Phật Thánh Vua Thần nổi tiếng mà không đâu có.
Lịch sử Am Ngọa Vân
Tháng 8/1299, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông đã dời bỏ cung Trung Quang phủ Thiên Trường (Nam Định) xuất gia vào núi Yên Tử để tu hành. Ngài lấy hiện là Hương Vân Đại Đầu Đà, xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ. Tháng 5/1307, Ngài lên tu tập tại một am nhỏ trên đỉnh núi Ngọa Vân, tức Am Ngọa Vân bây giờ. Ngày 1/11/1308. Ngài viên tịch trong thế sư tử nằm ngay tại Am Ngọa Vân. Ngài được hỏa thiêu ngay tại Am Ngọa Vân. Tháp " Phật Hoàng Tháp" chính là nơi lưu giữ xá lị của Ngài.Do thăng trầm của lịch sử và thời gian, Am Ngọa Vân bị xuống cấp nghiêm trọng. Đầu thế kỷ thứ XVIII, Thiền sư Đức Hưng đã cho tu bổ lại.
Đầu thế kỷ 20, triều đình nhà Nguyễn đã tiếp tục cho tu bổ lại lần nữa.
Trải qua 700 năm lịch sử, Am Ngọa Vân từ một am nhỏ đã trở thành Thánh Địa của Thiền phái Trúc Lâm nói riêng và của Đạo Phật nói chung. Với Đạo Phật, đây được coi là chốn linh thiêng nhất. Đây được coi là chốn tổ của chốn tổ.
Tóm tắt lịch sử Phật Hoàng Trần Nhân Tông
Phật Hoàng Trần Nhân Tông, sinh năm 1258. Ngài là vị hoàng đế thứ ba của vương triều Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng từ năm 1293 cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được nhiều sử gia đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ 13, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng đất nước.Chuyện ly kỳ khi Phật hoàng Trần Nhân Tông sắp băng hà
Đây là câu chuyện được đăng trên báo Kiến Thức:Tương truyền khi Phật hoàng Trần Nhân Tông sắp băng hà, mấy ngày liền mây u ám quanh ngọn Yên Tử và đệ tử của ngài trông thấy đôi rồng chầu quanh.
Biết trước giờ viên tịch
Mùa hạ năm 1308, Phật hoàng Trần Nhân Tông (lúc này đã xuất gia từ lâu) vào núi Yên Tử bảo hết những người cư sĩ theo hầu xuống núi, chỉ để lại 10 thị giả thường theo. Ngài lên ở am Tử Tiêu trên núi Yên Tử để giảng Truyền Đăng Lục cho thị giả Pháp Loa.
Theo sách "91 thiền sư Việt Nam" của Hòa thượng Thích Thanh Từ, từ đây Trần Nhân Tông leo khắp các núi, tìm kiếm các hang động và ở trong thạch động. Thị giả Pháp Loa thấy thế bèn thưa: “Tôn đức tuổi đã già yếu mà xông pha trong sương tuyết, lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào ai?”. Ngài bảo: “Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy”.
Vẫn theo tài liệu nói trên, ngày mùng 5 tháng 10 năm ấy, người nhà Công chúa Thiên Thụy lên núi bạch ngài rằng: “Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng mong được thấy Tôn đức rồi chết”. Ngài bùi ngùi bảo: “Thời tiết đã đến vậy”. Ngày mùng mười ngài về đến kinh, dặn dò xong, ngày Rằm ngài trở về núi.
Phần về câu chuyện Trần Nhân Tông nói với công chúa Thiên Thụy thì sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép như sau: Năm 1308, niên hiệu Hưng Long thứ 16, ngày mồng 3 tháng 11, thượng hoàng băng ở am Ngọa Vân núi Yên Tử. Bấy giờ Thượng hoàng xuất gia, tu ở ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử, tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ. Bà chị là Thiên Thụy ốm nặng, Thượng hoàng xuống núi, tới thăm và bảo: “Nếu chị đã đến ngày đến giờ thì cứ đi, thấy âm phủ có hỏi thì trả lời rằng: Xin đợi một chút, em tôi là Trúc Lâm đại sĩ sẽ tới ngay”.
Nói xong, Thượng hoàng trở về núi, dặn dò người hầu là Pháp Loa các việc về sau, rồi bỗng nhiên ngồi mà hóa. Thiên Thụy cũng mất vào hôm đó”.
Những sự kiện linh ứng
Theo sách của Hòa thượng Thích Thanh Từ, ngày 19 Phật hoàng Trần Nhân Tông về tới núi Yên Tử. Ngài bèn sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu gọi đệ tử Bảo Sát đến gấp.Hôm sau Bảo Sát quảy gói sang. Đi đến Doanh Tuyền thì thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi sơn và hạ xuống Doanh Tuyền, nước đầy tràn lên cao mấy trượng, giây lát lại bình xuống. Lại thấy hai con rồng đầu bằng đầu ngựa, ngóc cao hơn trượng, hai con mắt như sao, chốc lát lại lặn xuống. Đêm ấy Bảo Sát nghỉ trong quán trọ dưới núi mộng thấy điềm chẳng lành.
Ngày 21 Bảo Sát đến được am Ngọa Vân. Trông thấy Bảo Sát, Phật hoàng mỉm cười bảo: “Ta sắp đi đây, nhà ngươi sao đến trễ vậy? Đối với Phật pháp, ngươi có chỗ nào chưa rõ hãy hỏi mau”. Kế đó ngài vì Bảo Sát mà trả lời những điểm còn hoài nghi chưa rõ. Đến đêm ngày 1 tháng 11, ngài hỏi Bảo Sát: “Hiện giờ là giờ gì?”. Bảo Sát bạch: “Giờ Tí”. Ngài nói: “Đến giờ ta đi” rồi sau đó nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch.
Sau khi Phật hoàng diệt độ, theo lời di chúc, đệ tử Pháp Loa làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình đem về kinh sư. Lại nói chuyện đưa xá lị của Phật hoàng về kinh.
Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: “Pháp Loa thiêu xác Thượng hoàng được hơn 3.000 hạt xá lỵ mang về chùa Tư Phúc ở kinh sư.Vua có ý ngờ Các quan nhiều người xin bắt tội Pháp Loa. Hoàng thái tử Mạnh mới 9 tuổi, đứng hầu bên cạnh, chợt thấy có mấy hạt xá lỵ ở trước ngự đưa ra cho mọi người xem, kiểm lại trong hộp thì đã mất một số ít hạt.Vua xúc động đến phát khóc trong lòng mới khỏi nghi ngờ".
Am Ngọa Vân







Sau khi thắp hương hành lễ tại chùa Ngọa Vân trung, chúng tôi tiếp tục đi bộ khoảng 200m lên am - chùa Ngọa Vân thượng. Mấy chú cún hiền lành, không hề có vẻ lấm lét sợ sệt, tung tăng theo chân chúng tôi lên Ngọa Vân thượng.
Dẫn tôi từ chùa Ngọa Vân trung lên am - chùa Ngọa Vân thượng là chị Nguyễn Thu Hiền, cán bộ Ban Quản lý di tích đền Trần tại Đông Triều, Quảng Ninh.
Am Ngọa Vân - Nơi Trần Nhân Tông hóa Phật
Trúc Lâm-dòng thiền Phật giáo mang đậm bản sắc Việt Nam
Đi dọc theo những bậc đá, chị Hiền rủ rỉ kể tôi nghe về Đức Phật hoàng Trần Nhân Tông và am - chùa Ngọa Vân thượng. Phật hoàng Trần Nhân Tông là vị vua thứ 3 của nhà Trần, và là một trong 14 anh hùng dân tộc Việt Nam.
Năm 1293, sau khi nhường ngôi cho con là vua Trần Anh Tông, Ngài lui về phủ Thiên Trường (Nam Định) làm Thái Thượng Hoàng để dìu dắt, giúp vua làm quen với việc quản lý và điều hành đất nước. Hơn 1 năm sau, Ngài rời phủ Thiên Trường về thực tập xuất gia tại hành cung Vũ lâm, Gia Khánh, Ninh Bình.
Tháng 9 năm 1299, khi vua Trần Anh Tông đã đủ trưởng thành, Thượng hoàng Trần Nhân Tông chính thức xuất gia tu hành khổ hạnh tại Yên Tử, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Khi lên tu tại am Tử Tiêu trên ngọn núi Tử Tiêu, Ngài xưng là Trúc Lâm Đại Sĩ.
Tại đây, Ngài đã sáng lập thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền Phật giáo mang đậm bản sắc Việt Nam.

Toàn cảnh am - chùa Ngọa Vân thượng
Sau thời gian tu hành khổ hạnh tại Yên Tử, Ngài xuống núi, đi khắp xóm làng, dậy dân chúng phá bỏ dâm từ, thực hành thập thiện và ban thuốc chữa bệnh cho dân nghèo.
Tháng 5 năm 1307, Trúc Lâm Đại sĩ lên tu tại một am nhỏ trên đỉnh Ngọa Vân - một đỉnh cao quanh năm mây phủ nằm trên núi Bảo Đài.
Đến ngày 1/11 (âm lịch) năm 1308, Ngài an nhiên nhập Niết bàn tại Ngọa Vân. Do đó, Ngọa Vân chính là "thánh địa" của thiền phái Trúc Lâm.
Theo chị Hiền, ban đầu, Ngọa Vân chỉ là một am nhỏ có hướng phía Tây Nam, nơi Phật hoàng tu hành và hóa Phật. Sau khi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, đệ tử của ngài là thiền sư Pháp Loa đã cho xây dựng, mở rộng khu Ngọa Vân trở thành quần thể rất lớn.
Đến thời Lê Sơ thế kỷ 15, Nho giáo là quốc giáo, các công trình chùa chiền, am tháp vốn đã bị hao mòn, nay lại không được quan tâm và xuống cấp trầm trọng.

Tháp Phật Hoàng, nơi lưu giữ xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông. Bên cạnh có bia đá được dựng vào năm 1840. Hai bên là tượng ngựa đá và voi đá phủ phục
Phải đến thời Lê Trung Hưng, Phật giáo hưng thịnh trở lại, chùa chiền, am tháp được các tầng lớp quý tộc quan tâm và tạo dựng khang trang. Nổi bật là năm 1707, Ngọa Vân được trùng tu và mở rộng thành cụm chùa lớn.
Đến thời kỳ chống Pháp, khu vực này bị giặc đánh phá hư hỏng nặng và đổ nát. Sau đó, đến năm 2002, được sự công đức của nhân dân thập phương và chính quyền địa phương, am - chùa Ngọa Vân thượng mới được khôi phục.
Kiến trúc còn lại hiện nay tập trung tại hai cấp nền. Trong đó, cấp nền thấp hơn là sân chùa thượng, có hai tháp được xây dựng bằng đá gạo, đá bán laterit, là tháp Phật Hoàng và tháp Đoan Nghiêm.
"Tháp mộ chính giữa chính là tháp Phật Hoàng, chứa xá lỵ của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Bên phải là tháp mộ của thiền sư Đức Hưng, tháp Đoan Nghiêm. Còn tháp phía bên trái mới được xây dựng trong quá trình trùng tu, tôn tạo lần này là tháp của thiền sư Bảo Sái," chị Hiền vừa giới thiệu vừa chỉ vào từng tháp mộ.
Sau khi Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn và hóa Phật, đệ tử đã hỏa thiêu nhục thể của Ngài ngay tại Ngọa Vân.

Tháp Đoan Nghiêm, tháp mộ của thiền sư Đức Hưng - người đã trùng tu, mở rộng Ngọa Vân vào đầu thế kỷ 18.
Ngọa Vân-địa chỉ hành hương của Phật tử muôn phương
Truyền thuyết kể rằng, khi hỏa thiêu, mây ngũ sắc phủ trên giàn hỏa, Pháp Loa đã tưới nước thơm lên giàn hỏa thiêu, thu được ngọc cốt và hàng nghìn viên xá lỵ của Ngài.
Chị Hiền còn cho hay: "Các phần xá lỵ của Phật Hoàng Trần Nhân Tông, phần đầu tiên được tôn trí ngay tại tháp Phật Hoàng ở am Ngọa Vân, nơi Phật hoàng nhập Niết bàn. Những phần còn lại được đưa lên thuyền vua và chở về Thăng Long, được tôn trí ở những nơi khác như Đức Lăng ở Thái Bình, tháp Huệ Quang ở Yên Tử, tháp ở chùa Quỳnh Lâm...".
Đến thời Lê Trung Hưng, bảo tháp do Pháp Loa xây dựng đã bị đổ nát. Năm 1707, thiền sư Đức Hưng (hiệu là Viên Minh) đã cho trùng tu.
Phía trước tháp Phật Hoàng có tượng ngựa đá, voi đá phủ phục. Bên cạnh tháp Phật Hoàng còn có bia đá, ghi nội dung: Ngày 6 tháng 9 năm 1840 dựng bia ở lăng Hoàng đế Trần Nhân Tông.

Bài vị trong tháp Đoan Nghiêm chạm nổi mười bảy chữ Hán “Nam mô Thiền Lâm thích tử ma ha tì kheo Đức Hưng Thiền sư an tọa hạ”
Tháp Đoan Nghiêm nằm ở phía Đông cấp nền là tháp mộ của Thiền sư Đức Hưng, người chủ trì trùng tu, xây dựng và mở rộng Ngọa Vân vào năm 1707 thời Lê Trung Hưng.
Tháp có mặt bằng hình vuông, có một tầng bệ, hai phần thân và phần chóp tháp hình búp sen. Cấp nền thứ hai gồm am Sơn thần, chùa Ngọa Vân Thượng và am Ngọa Vân.
Ngoài cùng phía Đông chính là am thờ sơn thần, có tên là "Thiên Sơn từ". Hai bên có đôi câu đối bằng chữ Hán miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, vẻ đẹp ở Ngọa Vân trên núi Bảo Đài là: "Vạn cổ anh linh tự - Tứ thời cảnh sắc tân".
Phía trước am Sơn thần là bia đá có tên "Trùng tu Ngọa Vân tự" từng bị đổ nát, nay đã được phục dựng. Các nét chữ chạm khắc trên bia vẫn còn rõ nét, ghi chép lại việc trùng tu chùa Ngọa Vân dưới thời Lê Trung Hưng.

Bia đá có tên Trùng tu Ngọa Vân tự (bia ghi chép trung tu chùa Ngọa Vân) được dựng vào năm 1707
Trung tâm của cấp nền thứ 2 là chùa Ngọa Vân thượng. Theo lời kể của chị Hiền, trước khi trùng tu lại, khu vực nhà Tổ được gọi là chính điện hay chùa Ngọa Vân thượng, thờ Tam Tổ Trúc Lâm.
"Sau khi trùng tu, nơi đây có sự thay đổi về tính chất thờ tự. Theo đó, khu vực nhà Tổ được xây dựng lại trên nền chùa cổ và thờ 5 vị. Ở chính giữa là Tam Tổ Trúc Lâm, gồm Sơ Tổ Phật hoàng Trần Nhân Tông, Nhị Tổ Pháp Loa, Tam Tổ Huyền Quang. Bên cạnh còn có ban thờ của Thiền sư Đức Hưng, ban thờ của Thiền sư Bảo Sái – người đệ tử thân cận nhất, theo hầu Phật hoàng trước khi Ngài nhập niết bàn".
Nằm ở phía Tây cấp nền số 2, và cao hơn cấp nền khoảng 2,5m là am Ngọa Vân. Trong am có đặt tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông với dáng nằm mô phỏng Phật nhập niết bàn.

Am Ngọa Vân được xây bằng gạch, mái cuốn vòm bằng gạch
Theo sách "Trần triều Thánh tổ các xứ địa đồ", mặt bằng chùa Ngọa Vân trước kia không có am Ngọa Vân, chỉ có Đá Niết Bàn, chùa Ngọa Vân, hai tòa tháp, bia đá. Do vậy, am Ngoạ Vân hiện nay có thể được xây trên vị trí của Đá Niết Bàn.

Tượng thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập niết bàn, phía dưới chân có Bảo Sái chắp tay quỳ hầu.
Khi mặt trời dần xuống núi, cái nắng ấm áp ban ngày nhường chỗ cho những cơn gió lạnh, cũng là lúc chuyến khám phá vùng "thánh địa" của thiền phái Trúc Lâm dần khép lại.
Trong bầu không khí thoang thoảng mùi trầm hương, tiếng kinh, tiếng mõ chùa văng vẳng như càng tăng thêm sự tĩnh lặng của vùng "thánh địa" linh thiêng.






