Sự tích chùa Đồng - Yên Tử - "Phúc địa Giao Châu" Tỏa Hương Mây Ngàn
"Phúc địa Giao Châu" tỏa hương mây ngàn
Từ An Nam chí lược và Đại Nam nhất thống chí Yên Tử xa xưa có tên là Yên Sơn được mệnh danh là "phúc địa thứ 4 của Giao Châu"
Và một trong 72 phúc địa nhà Đường thời Bắc thuộc. Núi Yên Tử còn được gọi là núi Voi, Tượng Sơn - bởi hình dạng cánh núi như con voi nằm phủ phục.
Chốn thiêng Yên Tử bồi đắp lên mình rất nhiều chuyện kỳ linh của các bậc hành giả. Đây cũng là nơi An Kỳ Sinh người đời Hán qua tu tiên mà đắc đạo.
Yên Tử là Linh Sơn, tức là núi thiêng. Chẳng vì vách đá cheo leo làm nên non thiêng, mà nơi đây có nhiều bậc cao tăng gửi đức tu chứng đạo
Xưa kia, trước khi vua Trần Nhân Tông chọn chốn non cao Yên Tử tu hành
Thiền sư Hiện Quang, Viên Chứng, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Dao đều lấy núi rừng Yên Tử để thường trụ.
Trước cửa chùa Yên Hoa còn có tấm bia Tháp Trường Quang khắc chữ "Thùy Thế sùng tích Linh Sơn - Trường Quang Tháp Bi" vào năm Chính Hòa thứ 8 triều Lê (1687)
Điều này có nghĩa là bia tháp Trường Quang núi Linh Sơn, di tích tôn quý để lại cho hậu thế. Cho nên, "Non thiêng Yên Tử" là chốn linh có từ ngàn xưa.
Nói cách khác, nơi rừng thẳm non cao này là điểm hẹn tâm linh cho những người con thức tỉnh tìm về cội nguồn để giác ngộ chân tâm:
"Dù ai quyết chí tu hành
Có về Yên Tử, mới đành lòng tu."
Mặc dù thời đại có thay đổi, phong ba có bào mòn thì dấu tích về nơi non thiêng mà nhà vua đắc đạo vẫn miên trường bất diệt.
Dấu ấn non thiêng Yên Tử
Đến chân núi Yên Tử là suối Giải Oan uốn khúc, chảy róc rách rửa trôi mọi muộn phiền. Từ suối Giải Oan đi ngược lên là hàng tùng cổ thụ có niên đại khoảng 800 tuổi. Rễ gân già chắc, bò lan ra cả đường đi như những con trăn trườn mình thành bậc thang dẫn lối. Đến dốc Voi phục, là chùa Hoa Yên. Nơi đây tục truyền là nơi tu hành của vua. Bên cạnh là Hòn Ngọc, có nhiều tháp và mộ. Đây là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị trụ trì chùa Yên Tử.
Tương truyền, xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, hướng về cõi Phật, vô số cung nữ, phi tần đã đi theo mong nhà vua trở về nhưng không được. Họ đã đằm mình xuống suối tự vẫn. Nhà vua thương cảm cho tấm lòng chúng sinh mà lập nên một ngôi chùa để siêu độ giải oan. Từ đó ngôi chùa và con suối uốn lượn bên dưới gọi là Giải Oan Cốc.
Tiếp theo là đến Tháp Huệ Quang, nằm phía trước chùa Hoa Yên. Nơi đây cất giữ một phần xá lị của vua Trần Nhân Tông và lưu giữ ngọc cốt của các nhà sư từng tu hành tại Yên Tử. Quanh tháp là những cây tùng cổ xòe bóng tạo nên vẻ u trầm, cổ tịch thấp thoáng bóng hình xưa về một thời tu đạo của nhà vua.
Từ chùa Hoa Yên men theo sườn núi là tới Am Thiền Định - nơi vua Trần ngồi thiền khi xưa. Cạnh đó có con suối Ngự Dội, tương truyền nhà vua thường tắm ở nơi suối này.
Chùa Một Mái tuy nhỏ, trông đơn sơ mộc mạc nhưng ẩn chứa trong đó là cả một giá trị lịch sử to lớn. Với lối kiến trúc độc đáo tựa vào vách núi giữa lưng trời, ngôi chùa càng khiến nơi non thiêng Yên Tử thêm đặc biệt.
Cách chùa Hoa Yên về phía bên trái là chùa Một Mái. Từ độ cao này phóng tầm nhìn ra xa, vùng Đông Bắc non xanh nước biếc hiện về trong đáy mắt. Thấp thoáng vịnh Hạ Long như bức họa đồ phủ lên dòng Bạch Đằng cuộn sóng. Mỗi con dân đất Việt khi trở về cánh cung Đông Triều sẽ cảm nhận được sự hùng vĩ màu nhiệm, với thuở vàng son của dân tộc. Đi thêm khoảng 500m nữa là chùa Bảo Sái. Ngôi chùa này là nơi lưu trữ kinh văn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Nằm trên đỉnh An Kỳ Sinh là bức tượng đúc bằng đồng nguyên khối Phật hoàng Trần Nhân Tông lớn nhất Châu Á.
Lên cao nữa là khu vực Cổng trời - Bia Phật. Nơi đây có một phiến đá trầm tích cát sỏi biển, ốc sò hóa thạch. Và cuối cùng, nằm trên đỉnh thiêng Yên Tử là chùa Đồng. Đây là ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Châu Á, có hình dáng tựa như một bông sen.
Sự tích chùa Đồng
Chùa Đồng, còn được gọi là Thiên Trúc tự, được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII Hậu Lê. Thuở ban đầu, chùa chỉ là một khám nhỏ bằng đồng. Cuốn Viêm giao trưng cổ ký viết: "Chùa Đồng do nội nhân họ Trịnh xây dựng, mái lợp toàn bằng ngói đồng, đúc tượng đồng. Đến thời Cảnh Hưng nhà Lê di chỉ chùa vẫn còn." Trải qua năm tháng, mùa mưa bão thời vua Lê Cảnh Hưng vào năm 1740 đã quật ngã khám đồng, làm lật mái chùa, chỉ còn lại tàn tích là hố cột trơ trọi trên mỏm đá.
Chùa Đồng xưa kia chỉ là am thờ bằng đồng nhỏ.
Đến một ngày mùa đông năm 1930, nhờ Phật tử phát tâm công đức, chùa được tôn tạo đúc bằng đồng đặc. Khoảng sau năm 1964, chùa bị rơi xuống vách núi phía Bắc, được cho là không tìm thấy dấu tích.
Vào năm 1993, Phật tử người Việt ở Mỹ công đức tôn tạo đúc chùa bằng đồng trên nền móng cũ. Bên trong chùa thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngự đài sen, hàng dưới là Trúc Lâm Tam Tổ (Điều ngự Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang).
Một lần nữa, vào năm 2006, chùa được đúc mới mang hình dáng đóa sen nở với trọng lượng 70 tấn. Kể từ ngày ấy đến nay, chùa Đồng vẫn là chốn thiêng mà bao du khách thập phương ao ước hành hương về chiêm bái.
Chùa Đồng nằm giữa mây ngàn Đông Bắc, hè phủ sương mù, đông phủ băng giá.
Kiến trúc chùa Đồng
Chùa Đồng Yên Tử nổi tiếng trứ danh không chỉ linh thiêng mà còn về kiến trúc độc đáo. Địa thế chùa mang hình dáng của một đóa sen khổng lồ. Mỗi phía đá là một cánh sen đang nở rộ. Chùa Đồng tọa lạc chính giữa đài sen.
Chùa hướng về phía Tây Nam, nghiêng sang hai bên, một gian hai chái mang dáng như bông sen nở. Với diện tích chế tác gần 20 m2, chiều cao nền đến nóc là 3,35m.
Bốn đầu đao của chùa là hình đầu rồng đậm phong cách kiến trúc thời Trần. Phần mái vươn ra tứ phía tạo thành hiên. Bên dưới bức vách trang trí hoa văn dải hình lá lật. Trước hiên có các lan can hình thân trúc.
Kiến trúc chùa Đồng đặc trưng với phong cách thời nhà Trần.
Trong chùa thờ tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng Thích Ca mặc áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già. Ba pho tượng Tổ đều ngự trên đài sen, có trang trí hoa văn hình sen, cúc, sóng nước.
Tượng Đệ nhất Tổ (Trần Nhân Tông) mặc áo cà sa, tay úp lên hai đùi, ngồi với tư thế “cát tường tọa” mắt nhìn xuống. Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang) mặc áo cà sa, tư thế ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”.
Cầu gì ở chùa Đồng?
Lễ hội xuân Yên Tử diễn ra hàng năm từ mùng 10 tháng Giêng và kéo dài suốt 3 tháng mùa xuân. Người ta kháo nhau, lên được đỉnh chùa Đồng xát tiền, xát tay, cọ đầu vào chuông, khánh và cột ở chùa Đồng "lấy hên" thì cả năm làm ăn may mắn, phát tài phát lộc.
Hàng nghìn du khách thập phương đổ về ngôi chùa thiêng, trước là cầu may mắn, bình an, sau là cầu tài lộc, sự nghiệp lẫn tình duyên.
Hễ cấu kiện chùa hở ra chỗ nào, người ta nhét tiền vào chỗ đó. Chuông đồng và khánh đồng bên cạnh cũng bóng loáng theo năm tháng vì số người chà xát cầu may quá nhiều.
Nét đẹp tín ngưỡng nằm ở đức tin, việc người dân tìm về chiêm bái là mong chứng lòng thành. Tuy nhiên, ngoài việc chống chọi với sự khắc nghiệt của thời tiết chốn u ngàn, chùa Đồng còn phải "gồng mình" gánh thêm những lần chà xát tiền bạc lẫn đồ vật, quần áo của người dân.
Tạm kết
Yên Tử là chốn sơn môn của dòng thiền Yên Tử. Đến lúc xuất gia và gửi mình vào cõi Phật, vua Trần Nhân Tông đắc pháp bởi dòng thiền này. Nơi rừng sâu non cao, mây trắng ngàn năm yên tĩnh thích hợp cho việc tu đạo. Hơn nữa, nơi đây cũng là "phúc địa" - là đất phúc địa linh của miền Bắc đất Việt.
Di họa chiến tranh khốc liệt do giặc Nguyên Mông để lại nỗi đau khôn cùng cho tất thảy dân tộc. Bởi vậy, Phật hoàng muốn dùng uy đức của mình để "tịnh hóa nhân gian", khơi dậy Phật Tính nơi con người, mong cầu muôn dân cùng nhau xây dựng đất nước hùng cường.
Là vua một nước, bỏ qua vinh hoa phú quý, vua Trần Nhân Tông phát nguyện tu hành, gửi thân xác nơi non thiêng Yên Tử để đắc pháp, mong cầu quốc thái dân an.
Từ ngàn đời nay, Yên Tử ấy vẫn là chốn non thiêng ngàn năm mây trắng, quy tụ mối duyên lành Phật hoàng phát tâm để lại. Hậu thế muôn đời dốc lòng bái thỉnh, mỗi khi hướng về nơi linh thiêng Yên Tử để thấy tấm lòng cao cả miên trường của Người để thêm yêu quê hương, đất nước.
1. Giới thiệu tổng quan về chùa Đồng Yên Tử
Chùa Đồng Yên Tử tọa lạc trên đỉnh non thiêng Yên Tử ở độ cao 1.068m so với mực nước biển, là điểm đến tâm linh linh thiêng và hấp dẫn du khách thập phương. Ngôi chùa không chỉ đóng vai trò biểu tượng trong quần thể danh thắng Yên Tử mà còn mang giá trị văn hóa, tín ngưỡng đặc biệt đối với Phật giáo Việt Nam.
Được bao quanh bởi cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, chùa Đồng không chỉ là nơi hành hương tâm linh mà còn là điểm du lịch hấp dẫn thu hút hàng triệu lượt khách tham quan hàng năm. Đây là công trình kiến trúc độc đáo được chế tác hoàn toàn từ đồng, tạo nên vẻ đẹp uy nghi giữa núi rừng Yên Tử.

2. Lịch sử chùa Đồng Yên Tử – Quá trình hình thành và phát triển
Ngôi chùa đồng Yên Tử có lịch sử hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn đều để lại dấu ấn đặc biệt trong quá trình kiến tạo nên công trình tâm linh độc đáo này. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết quá trình hình thành và phát triển của chùa Đồng qua các thời kỳ lịch sử.
2.1. Giai đoạn sơ khai
Theo tư liệu lịch sử, ngôi chùa Đồng ban đầu được xây dựng bởi một bà phi của chúa Trịnh vào thời hậu Lê (thế kỷ XVII). Điểm đặc biệt của công trình này là được đúc hoàn toàn bằng đồng, khác biệt so với các ngôi chùa truyền thống thường được làm từ gỗ lim ở Việt Nam thời bấy giờ. Trong giai đoạn đầu tiên, chùa Đồng chỉ là một khám thờ nhỏ, thậm chí không đủ chỗ cho một người chui lọt vào bên trong.
Trải qua thời gian, đến năm Canh Thân 1740, dưới triều vua Lê Cảnh Hưng, một cơn bão lớn đã làm hư hại mái chùa. Sau đó, kẻ gian đã lợi dụng tình hình để dỡ bỏ phần còn lại của ngôi chùa, chỉ để lại dấu tích là những hố cột còn sót lại trên mỏm đá.
Vào mùa đông năm 1930, bà Bùi Thị Mỹ từ chùa Long Hoa đã có công tái tạo và phục dựng lại chùa Đồng bằng vật liệu bê tông cốt đồng. Công trình này được đặt trên một phiến đá vuông vắn, có chiều cao khoảng ngang đầu người, tại vị trí chùa Đồng cũ.
Đến năm 1993, ông Nguyễn Sơn Nam, một Việt kiều tại Mỹ, cùng các phật tử hải ngoại đã phát tâm đúc lại ngôi chùa mới với kiến trúc hình chữ Đinh – một kiểu kiến trúc phổ biến trong các công trình chùa Việt Nam. Đặc biệt, chữ Đinh này được thiết kế theo hình dáng một bông sen đang nở với những cánh hoa tự nhiên mềm mại. Công trình được đặt ngay bên cạnh ngôi chùa Đồng bằng bê tông đã được xây dựng đầu thế kỷ XX.

2.2. Giai đoạn trùng tu và kiến tạo lại (năm 2006)
Sự phát triển quan trọng nhất của chùa Đồng Yên Tử diễn ra vào ngày 03 tháng 6 năm 2006. Dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Phật học Đại Đức Thích Thanh Quyết (sau này là Thượng tọa Thích Thanh Quyết) cùng Ban Quản lý Dự án chùa Đồng, công trình trùng tu lớn đã được khởi công. Dự án này được thực hiện nhờ vào công đức của người dân thập phương trong và ngoài nước, với sự thiết kế của kiến trúc sư Trần Quốc Tuấn từ Viện Bảo Tồn Di Tích.
Sau khoảng 8 tháng thi công, đến ngày 30 tháng 01 năm 2007, chùa Đồng đã hoàn thành với diện mạo như hiện nay. Vị trí của ngôi chùa mới được đặt chính giữa hai ngôi chùa đã xây dựng trước đó, tạo nên một tổng thể kiến trúc hài hòa và toát lên vẻ linh thiêng độc đáo cho công trình tâm linh này.
3. Hướng dẫn cách di chuyển tới chùa Đồng Yên Tử
Chùa Đồng Yên Tử nằm trên đỉnh núi Yên Tử thuộc thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Để đến được ngôi chùa linh thiêng này, du khách có thể tham khảo các phương thức di chuyển sau:
3.1. Từ Hà Nội đến chân núi Yên Tử
- Bằng xe khách: Du khách có thể bắt xe khách từ các bến xe lớn như Mỹ Đình, Giáp Bát hoặc Yên Nghĩa đi Uông Bí. Thời gian di chuyển khoảng 3-4 giờ tùy điều kiện giao thông.
- Bằng phương tiện cá nhân: Nếu tự lái xe, bạn có thể di chuyển theo tuyến cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, sau đó đi theo hướng Quốc lộ 18 về Uông Bí. Thời gian di chuyển khoảng 2,5-3 giờ.
3.2. Từ chân núi Yên Tử lên chùa Đồng
- Đi cáp treo Yên Tử: Đây là phương tiện phổ biến và thuận tiện nhất dành cho mọi du khách. Hành trình lên chùa Đồng bằng cáp treo gồm hai chặng: Leo núi bộ: Dành cho những người yêu thích trải nghiệm và muốn chinh phục thiên nhiên, bạn có thể chọn leo bộ theo các bậc đá. Trên đường đi, du khách sẽ đi qua nhiều điểm tham quan hấp dẫn như chùa Giải Oan, chùa Hoa Yên, chùa Bảo Sái trước khi đến chùa Đồng. Thời gian leo núi khoảng 5-6 giờ, tùy thuộc vào tốc độ và sức khỏe của mỗi người.
- Chặng 1: Từ chân núi đến chùa Hoa Yên
- Chặng 2: Từ chùa Một Mái đến gần chùa Đồng

Lưu ý: Dù đi bằng cáp treo, du khách vẫn phải leo bộ thêm khoảng 700-800 mét cuối cùng để đến chùa Đồng. Đoạn đường này chủ yếu là các bậc đá xây dựng men theo sườn núi. Do độ cao lớn, không khí trên đỉnh núi khá loãng, vì vậy du khách nên di chuyển chậm rãi, nghỉ ngơi khi cần thiết và nhớ mang theo nước uống đầy đủ.
4. Tìm hiểu đặc điểm kiến trúc độc đáo của chùa Đồng
Chùa Đồng Yên Tử không chỉ nổi tiếng về mặt tâm linh mà còn là một kiệt tác kiến trúc độc đáo với nhiều đặc điểm nổi bật. Hãy cùng khám phá những nét kiến trúc đặc sắc của ngôi chùa này.
4.1. Ngôi chùa bằng đồng lớn nhất tại Châu Á
Chùa Đồng Yên Tử gây ấn tượng mạnh mẽ với du khách nhờ vào kiến trúc độc đáo và quy mô ấn tượng. Đây là công trình được đúc hoàn toàn bằng đồng với trọng lượng lên tới 70 tấn, trở thành ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Châu Á. Ngôi chùa có diện tích gần 20m², chiều dài 4,6m, chiều rộng 3,6m và chiều cao 3,35m.
Phần mái chùa được thiết kế theo kiểu ngói mũi hài truyền thống, với bốn góc mái là hình đầu rồng uy nghi mang đậm phong cách nghệ thuật thời nhà Trần. Mỗi chi tiết trên công trình đều được chế tác một cách tinh xảo và tỉ mỉ. Lan can chùa có các chấn song hình thân trúc, trong khi các vách đồng được ghép khít và trang trí với hoa văn lá lật mềm mại. Tất cả những yếu tố này kết hợp tạo nên một tổng thể kiến trúc vừa vững chãi vừa uyển chuyển, hài hòa với không gian thiêng liêng trên đỉnh núi Yên Tử.
Với thiết kế một gian hai mái hướng về phía Tây Nam, chùa Đồng không chỉ là nơi thờ tự linh thiêng mà còn là một công trình kiến trúc kỳ vĩ. Vị trí cheo leo trên đỉnh núi đòi hỏi ngôi chùa phải được xây dựng đặc biệt để có thể chịu đựng được gió mạnh và điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
4.2. Ngôi chùa quanh năm được mây mù bao phủ
Một đặc điểm nổi bật khác của chùa Đồng Yên Tử là vị trí độc đáo ở độ cao 1.068m so với mực nước biển. Chính vị trí này khiến ngôi chùa quanh năm được bao phủ bởi mây mù, tạo nên khung cảnh huyền ảo và đầy linh thiêng.
Khi lên đến đỉnh núi, du khách sẽ có cảm giác như đang chạm vào “cõi trời” khi những đám mây trắng trôi bồng bềnh khắp nơi. Đặc biệt vào những buổi sáng sớm hoặc những ngày trời se lạnh, mây phủ kín lối, hòa quyện với không khí trong lành của núi rừng, mang đến cảm giác an nhiên và tĩnh lặng hiếm có.

4.3. Tượng phật bên trong chùa Đồng
Bên trong chùa Đồng Yên Tử là không gian thờ tự linh thiêng với các pho tượng Phật được chế tác tinh xảo. Hệ thống tượng Phật trong chùa bao gồm một pho tượng Phật Thích Ca và ba pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Các pho tượng có chiều cao trung bình từ 0,45m đến 0,87m và đều được đặt trên đài sen trang nghiêm.
Cụ thể về các pho tượng:
- Tượng Phật Thích Ca: Được thể hiện trong trang phục áo cà sa với tư thế tọa thiền kiết già (còn gọi là thế liên hoa tọa).
- Tượng Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông: Mặc áo cà sa với tư thế tay úp lên hai đùi và ngồi “kiết già kiểu cát tường” (còn gọi là “cát tường tọa”). Đặc biệt, ánh mắt của tượng nhìn xuống như đang soi rọi nội tâm.
- Tượng Đệ nhị Tổ (Pháp Loa) và Đệ tam Tổ (Huyền Quang): Cả hai pho tượng đều mặc áo cà sa, ngồi kiết già không lộ bàn chân, tay kết “định ấn”.
Tất cả ba pho tượng Tổ đều được đặt trang nghiêm trên đài sen được đặt trên bệ, với nhiều chi tiết trang trí hoa văn tinh tế như hình sen, cúc, thị, lá lật, sóng nước… Khi tham quan và chiêm ngưỡng những pho tượng Phật tại chùa Đồng Yên Tử, du khách nên tránh động chạm để bảo vệ và giữ gìn các hiện vật quý giá này.
5. Một số hoạt động, sự kiện nổi bật gắn với chùa Đồng
Chùa Đồng Yên Tử không chỉ là công trình kiến trúc tâm linh độc đáo mà còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động và sự kiện văn hóa quan trọng trong năm. Những sự kiện này thu hút hàng triệu lượt du khách thập phương đến tham quan và hành hương.
5.1. Lễ hội Yên Tử
Lễ hội Yên Tử là một trong những sự kiện tâm linh lớn nhất tại chùa Đồng cũng như toàn bộ khu di tích Yên Tử. Lễ hội được tổ chức hàng năm từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch, thu hút hàng triệu người hành hương từ khắp nơi đổ về.
Lễ hội bắt đầu bằng các nghi thức trang nghiêm do người dân ở chân núi tổ chức, sau đó là hành trình hành hương lên đỉnh Yên Sơn – nơi có chùa Đồng. Đây không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn là nét đẹp văn hóa đặc sắc của vùng đất Yên Tử, thu hút sự quan tâm của đông đảo du khách trong và ngoài nước.
5.2. Các lễ cầu an, cầu quốc thái dân an, lễ tưởng niệm Đức vua Trần Nhân Tông
Ngoài lễ hội chính, tại chùa Đồng Yên Tử còn diễn ra nhiều nghi lễ tâm linh quan trọng khác như lễ cầu an, lễ cầu quốc thái dân an và đặc biệt là lễ tưởng niệm Đức vua Trần Nhân Tông – vị vua đã từ bỏ ngai vàng để tu hành và sáng lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử.
Các buổi lễ thường được tổ chức trang nghiêm với sự tham gia của các nhà sư, phật tử và đông đảo du khách thập phương. Đây không chỉ là dịp để mọi người cầu nguyện cho bản thân và gia đình mà còn là cơ hội để tưởng nhớ và tri ân công đức của Đức vua Trần Nhân Tông đối với dân tộc và Phật giáo Việt Nam.
Các nghi lễ tại chùa Đồng thường bao gồm việc dâng hương, tụng kinh, niệm Phật và các hoạt động tâm linh khác. Du khách tham gia vào các buổi lễ này không chỉ để cầu mong may mắn, bình an mà còn để tịnh tâm, hướng thiện và tìm kiếm sự bình yên trong tâm hồn.

6. Kinh nghiệm du lịch chùa Đồng Yên Tử
Để có một chuyến tham quan chùa Đồng Yên Tử trọn vẹn và ý nghĩa, du khách nên lưu ý một số kinh nghiệm quan trọng sau:
- Trang phục: Mặc trang phục nghiêm túc, kín đáo khi đến thăm chùa để thể hiện sự tôn trọng đối với nơi linh thiêng.
- Chuẩn bị áo khoác: Do nhiệt độ trên đỉnh núi thường thấp hơn so với chân núi, du khách nên mang theo áo khoác ấm, đặc biệt là vào mùa đông hoặc những ngày có sương mù.
- Cẩn thận khi di chuyển: Khi gần đến chùa Đồng, du khách sẽ không còn thấy các bậc thang mà phải di chuyển trên địa hình đá tự nhiên. Vì vậy, cần đi lại cẩn thận để tránh trượt ngã.
- Bảo vệ môi trường: Không xả rác, không làm hư hại cảnh quan và môi trường xung quanh khu di tích.
- Tôn trọng công trình: Tránh đụng chạm hoặc làm hư tổn các hiện vật, công trình tại chùa Đồng.
- Giữ không gian yên tĩnh: Nên nói nhẹ, đi khẽ khi tham quan khu vực chùa để duy trì không gian thanh tịnh.
- Chuẩn bị lương thực, nước uống: Mang theo nước uống và đồ ăn nhẹ để bổ sung năng lượng trong quá trình leo núi dài.
- Cẩn trọng khi mua sắm: Không nên mua những đồ vật không rõ nguồn gốc khi lên chùa Đồng.
- Bảo vệ tài sản cá nhân: Cẩn thận với tiền bạc, tư trang khi đến những nơi đông người, đặc biệt là trong mùa lễ hội.

Với những kinh nghiệm hữu ích trên, hy vọng du khách sẽ có một chuyến tham quan chùa Đồng Yên Tử đáng nhớ và trọn vẹn. Hành trình chiêm bái ngôi chùa linh thiêng này không chỉ là dịp để cầu an, cầu phúc mà còn là cơ hội để tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ và tìm hiểu thêm về lịch sử, văn hóa Phật giáo Việt Nam
Bí ẩn chùa Đồng nơi non thiêng Yên Tử
Vượt qua hàng nghìn bậc đá gập ghềnh của chốn non thiêng Yên Tử, chùa Đồng sừng sững nằm giữa mây ngàn, quy tụ mối duyên lành ngàn năm của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Cùng chúng tôi tìm hiểu Bí ẩn chùa Đồng nơi non thiêng Yên Tử
Tạo hóa ưu ái cho mảnh đất Quảng Ninh yêu thương không chỉ có vịnh Hạ Long xứng tầm thắng cảnh thiên nhiên thế giới mà nơi đây còn được mệnh danh là kinh đô của Phật pháp. Nằm sâu vào dòng chảy lịch sử, đỉnh thiêng Yên Tử lắng đọng trong huyết mạch địa linh đất Việt, được coi là “phúc địa thứ 4 của Giao Châu”.
Xưa kia, Yên Tử được gọi là Bạch Vân Sơn (núi mây trắng) được liệt vào hàng danh sơn. Cách đây 723 năm (năm 1299), vua Trần Nhân Tông đã xây dựng nên dòng thiền Trúc Lâm dung hòa nhịp sống giữa đạo và đời. Người được kính ơn là vị Sư Tổ thứ nhất của Phật phái Trúc Lâm mang Phật danh Điều Ngự Giác Hoàng.

Cùng với việc xây dựng quần thể kiến trúc nhiều chùa, am, tháp và bia tượng hài hòa trong tổng thể nơi núi rừng hùng vĩ, phải chăng đó là nguồn cội dẫn dắt nơi đây thành chốn linh thiêng huyền bí, nắn gót hàng triệu phật tử tìm về gửi gắm tâm can?
“Từ bỏ ngôi vua để tu hành
Từ cái nhất thời, cái hữu danh
Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
Yên Tử trường xuân hóa đất lành.”
Non thiêng Yên Tử
Nằm cách thành phố Uông Bí khoảng 20 km về phía Tây, quần thể danh thắng Yên Tử tọa lạc sừng sững một góc trời Đông Bắc. Nơi đây được mệnh danh là trái tim của Phật pháp, là chốn giao hòa của vạn vật đất trời, nơi mà hàng triệu con dân phật tử hướng về tìm con đường an yên.
“Phúc địa Giao Châu” tỏa hương mây ngàn
Từ An Nam chí lược và Đại Nam nhất thống chí, Yên Tử xa xưa có tên là Yên Sơn, được mệnh danh là “phúc địa thứ 4 của Giao Châu” và một trong 72 phúc địa nhà Đường thời Bắc thuộc. Núi Yên Tử còn được gọi là núi Voi, Tượng Sơn – bởi hình dạng cánh núi như con voi nằm phủ phục.
Chốn thiêng Yên Tử bồi đắp lên mình rất nhiều chuyện kỳ linh của các bậc hành giả. Đây cũng là nơi An Kỳ Sinh người đời Hán qua tu tiên mà đắc đạo.
Yên Tử là Linh Sơn, tức là núi thiêng. Chẳng vì vách đá cheo leo làm nên non thiêng, mà nơi đây có nhiều bậc cao tăng gửi đức tu chứng đạo. Xưa kia, trước khi vua Trần Nhân Tông chọn chốn non cao Yên Tử tu hành, Thiền sư Hiện Quang, Viên Chứng, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Dao,… đều lấy núi rừng Yên Tử để thường trụ.
Trước cửa chùa Yên Hoa còn có tấm bia Tháp Trường Quang khắc chữ “Thùy Thế sùng tích Linh Sơn – Trường Quang Tháp Bi” vào năm Chính Hòa thứ 8 triều Lê (1687). Điều này có nghĩa là bia tháp Trường Quang núi Linh Sơn, di tích tôn quý để lại cho hậu thế. Cho nên, “Non thiêng Yên Tử” là chốn linh có từ ngàn xưa.

Nói cách khác, nơi rừng thẳm non cao này là điểm hẹn tâm linh cho những người con thức tỉnh tìm về cội nguồn để giác ngộ chân tâm:
“Dù ai quyết chí tu hành
Có về Yên Tử, mới đành lòng tu.”
Mặc dù thời đại có thay đổi, phong ba có bào mòn thì dấu tích về nơi non thiêng mà nhà vua đắc đạo vẫn miên trường bất diệt.
Dấu ấn non thiêng Yên Tử
Đến chân núi Yên Tử là suối Giải Oan uốn khúc, chảy róc rách rửa trôi mọi muộn phiền. Từ suối Giải Oan đi ngược lên là hàng tùng cổ thụ có niên đại khoảng 800 tuổi. Rễ gân già chắc, bò lan ra cả đường đi như những con trăn trườn mình thành bậc thang dẫn lối. Đến dốc Voi phục, là chùa Hoa Yên. Nơi đây tục truyền là nơi tu hành của vua. Bên cạnh là Hòn Ngọc, có nhiều tháp và mộ. Đây là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị trụ trì chùa Yên Tử.

Tương truyền, xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con trai là Trần Anh Tông, hướng về cõi Phật, vô số cung nữ, phi tần đã đi theo mong nhà vua trở về nhưng không được.
Họ đã đằm mình xuống suối tự vẫn. Nhà vua thương cảm cho tấm lòng chúng sinh mà lập nên một ngôi chùa để siêu độ giải oan. Từ đó ngôi chùa và con suối uốn lượn bên dưới gọi là Giải Oan Cốc.
Tiếp theo là đến Tháp Huệ Quang, nằm phía trước chùa Hoa Yên. Nơi đây cất giữ một phần xá lị của vua Trần Nhân Tông và lưu giữ ngọc cốt của các nhà sư từng tu hành tại Yên Tử. Quanh tháp là những cây tùng cổ xòe bóng tạo nên vẻ u trầm, cổ tịch thấp thoáng bóng hình xưa về một thời tu đạo của nhà vua.
Từ chùa Hoa Yên men theo sườn núi là tới Am Thiền Định – nơi vua Trần ngồi thiền khi xưa. Cạnh đó có con suối Ngự Dội, tương truyền nhà vua thường tắm ở nơi suối này.

Chùa Một Mái tuy nhỏ, trông đơn sơ mộc mạc nhưng ẩn chứa trong đó là cả một giá trị lịch sử to lớn. Với lối kiến trúc độc đáo tựa vào vách núi giữa lưng trời, ngôi chùa càng khiến nơi non thiêng Yên Tử thêm đặc biệt.
Cách chùa Hoa Yên về phía bên trái là chùa Một Mái. Từ độ cao này phóng tầm nhìn ra xa, vùng Đông Bắc non xanh nước biếc hiện về trong đáy mắt. Thấp thoáng vịnh Hạ Long như bức họa đồ phủ lên dòng Bạch Đằng cuộn sóng. Mỗi con dân đất Việt khi trở về cánh cung Đông Triều sẽ cảm nhận được sự hùng vĩ màu nhiệm, với thuở vàng son của dân tộc. Đi thêm khoảng 500m nữa là chùa Bảo Sái. Ngôi chùa này là nơi lưu trữ kinh văn của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Nằm trên đỉnh An Kỳ Sinh là bức tượng đúc bằng đồng nguyên khối Phật hoàng Trần Nhân Tông lớn nhất Châu Á.
Lên cao nữa là khu vực Cổng trời – Bia Phật. Nơi đây có một phiến đá trầm tích cát sỏi biển, ốc sò hóa thạch. Và cuối cùng, nằm trên đỉnh thiêng Yên Tử là chùa Đồng. Đây là ngôi chùa bằng đồng lớn nhất Chấu Á, có hình dáng tựa như một bông sen.
Bí ẩn chùa Đồng nơi non thiêng Yên Tử
Sự tích chùa Đồng
Chùa Đồng, còn được gọi là Thiên Trúc tự, được xây dựng vào thế kỷ thứ XVII Hậu Lê. Thuở ban đầu, chùa chỉ là một khám nhỏ bằng đồng. Cuốn Viêm giao trưng cổ ký viết: “Chùa Đồng do nội nhân họ Trịnh xây dựng, mái lợp toàn bằng nói đồng, đúc tượng đồng. Đến thời Cảnh Hưng nhà Lê di chỉ chùa vẫn còn.” Trải qua năm tháng, mùa mưa bão thời vua Lê Cảnh Hưng vào năm 1740 đã quật ngã khám đồng, làm lật mái chùa, chỉ còn lại tàn tích là hố cột trơ trọi trên mỏm đá.

Đến một ngày mùa đông năm 1930, nhờ Phật tử phát tâm công đức, chùa được tôn tạo đúc bằng đồng đặc. Khoảng sau năm 1964, chùa bị rơi xuống vách núi phía Bắc, được cho là không tìm thấy dấu tích.
Vào năm 1993, Phật tử người Việt ở Mỹ công đức tôn tạo đúc chùa bằng đồng trên nền móng cũ. Bên trong chùa thờ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni ngự đài sen, hàng dưới là Trúc Lâm Tam Tổ (Điều ngự Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang).
Một lần nữa, vào năm 2006, chùa được đúc mới mang hình dáng đóa sen nở với trọng lượng 70 tấn. Kể từ ngày ấy đến nay, chùa Đồng vẫn là chốn thiêng mà bao du khách thập phương ao ước hành hương về chiêm bái.

Kiến trúc chùa Đồng
Chùa Đồng Yên Tử nổi tiếng trứ danh không chỉ linh thiêng mà còn về kiến trúc độc đáo. Địa thế chùa mang hình dáng của một đóa sen khổng lồ. Mỗi phía đá là một cánh sen đang nở rộ. Chùa Đồng tọa lạc chính giữa đài sen.
Chùa hướng về phía Tây Nam, nghiêng sang hai bên, một gian hai chái mang dáng như bông sen nở. Với diện tích chế tác gần 20 m2, chiều cao nền đến nóc là 3,35m.
Bốn đầu đao của chùa là hình đầu rồng đậm phong cách kiến trúc thời Trần. Phần mái vươn ra tứ phía tạo thành hiên. Bên dưới bức vách trang trí hoa văn dải hình lá lật. Trước hiên có các lan can hình thân trúc.
Trong chùa thờ tượng Phật Thích Ca và 3 pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm. Tượng Thích Ca mặc áo cà sa, tọa thiền với tư thế kiết già. Ba pho tượng Tổ đều ngự trên đài sen, có trang trí hoa văn hình sen, cúc, sóng nước.
Tạm kết
Yên Tử là chốn sơn môn của dòng thiền Yên Tử. Đến lúc xuất gia và gửi mình vào cõi Phật, vua Trần Nhân Tông đắc pháp bởi dòng thiền này. Nơi rừng sâu non cao, mây trắng ngàn năm yên tĩnh thích hợp cho việc tu đạo. Hơn nữa, nơi đây cũng là “phúc địa” – là đất phúc địa linh của miền Bắc đất Việt.
Di họa chiến tranh khốc liệt do giặc Nguyên Mông để lại nỗi đau khôn cùng cho tất thảy dân tộc. Bởi vậy, Phật hoàng muốn dùng uy đức của mình để “tịnh hóa nhân gian”, khơi dậy Phật Tính nơi con người, mong cầu muôn dân cùng nhau xây dựng đất nước hùng cường.
Là vua một nước, bỏ qua vinh hoa phú quý, vua Trần Nhân Tông phát nguyện tu hành, gửi thân xác nơi non thiêng Yên Tử để đắc pháp, mong cầu quốc thái dân an.
Từ ngàn đời nay, Yên Tử ấy vẫn là chốn non thiêng ngàn năm mây trắng, quy tụ mối duyên lành Phật hoàng phát tâm để lại. Hậu thế muôn đời dốc lòng bái thỉnh, mỗi khi hướng về nơi linh thiêng Yên Tử để thấy tấm lòng cao cả miên trường của Người để thêm yêu quê hương, đất nước
Truyền Thuyết Dân Gian Vùng Yên Tử

Trên đỉnh Yên Tử có một pho tượng đá giống hình đạo sĩ đứng chắp tay quay về Tây phương, gọi là tượng An Kỳ Sinh. Truyền thuyết về An Kỳ Sinh được kể lại rằng: Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, ở phương Bắc có một đạo sĩ đến đây tu pháp Đạo Tiên. Ngài hái lượm cỏ cây, thảo dược, luyện thành thuốc trường sinh và ban pháp dược chữa bệnh cứu người. Người đời tỏ lòng tôn kính gọi ông là An Tử (thầy An) và gọi núi này là An Tử Sơn (núi thầy An). Sau này tránh tên húy của ông, dân gian gọi núi An Tử thành Yên Tử.
Truyền thuyết về các danh nhân ở Yên Tử, có một số truyện gắn với quá trình tu hành của Tam tổ Trúc lâm, 3 vị cư sĩ Phổ Hộ, Phổ Lại, Phổ Tế được tôn làm thành hoàng làng v.v.. Một số địa danh ở Yên Tử cũng được giải thích từ truyền thuyết như: Sự tích suối Giải Oan, Dốc Đỏ, suối Tắm, suối Hổ Khê, chùa Cầm Thực, chùa Lân, làng Nương, làng Mụ dưới chân Yên Tử, làng Năm Mẫu...
Bên cạnh đó còn có một số truyền thuyết về mai vàng, truyền thuyết Pháp Loa, truyền thuyết về Phật hoàng nhập Niết Bàn, về nàng Điểm Bích làm thơ gợi tình để thử lòng Huyền Quang v.v..
Truyền thuyết dân gian về làng Năm Mẫu kể lại rằng, khi các cung nữ trẫm mình xuống dòng suối Hổ Khê, có 5 chàng trai người Dao cứu được 5 cung nữ. Về sau, chịu ơn cứu mạng của các chàng trai, họ đã nên duyên vợ chồng, sinh con đẻ cái. Nơi có các cung nữ về làm vợ, làm mẹ cũng được đổi tên thành Năm Mẫu.
Tương tự, bên chùa Giải Oan có một cây sung thường gọi là cây ưu đàm. Khi cây sung còn nguyên vẹn, cành lá sum sê tỏa rộng cả một vùng. Sau khi Phật hoàng viên tịch, bóng hình Ngài quấn quýt lấy tán sung. Một hôm, Hải Lượng Đại thiền sư Ngô Thời Nhiệm tới Yên Tử lễ Trúc Lâm tam tổ đi qua gốc cây ưu đàm, thiền sư và 2 chư tăng bỗng nhìn thấy trên tán cây có hình bóng của Điều Ngự giác hoàng. Thoáng chốc Điều Ngự hóa thành vô số hoa sung. Một bầy chim xanh từ đâu bay tới ngậm hoa sung rồi biến mất. Lát sau bầy chim lại hiện ra lông chim bám đầy hoa sung.
Chùa Bảo Sái cũng gắn với câu chuyện dân gian khi xưa, cứ mỗi lần sư chùa tụng kinh, hổ lại đến bên gốc dổi nghe kinh kệ. Bỗng một ngày kia, sư chùa lâm bệnh rồi viên tịch, hổ đau đớn, thét gầm vang núi, ôm chặt thân cây dổi cào xé. Sau ngày đó, hổ biệt tăm. Những thân cây dổi cổ thụ với những vết cào xé, được cho là dấu vết của móng vuốt hổ ôm cây khi đó, bên cạnh là một bàn chân đá và rùa đá do thiên tạo, trông vô cùng linh thiêng, huyền bí trong mây núi Yên Tử.
Giống như ở phía Đông, phía Tây Yên Tử còn gắn với nhiều huyền thoại gợi nên hình sông thế núi, với con đường hoằng dương Phật pháp của Phật hoàng Trần Nhân Tông. Truyền thuyết ở Tây Yên Tử nổi bật là mảng truyện kể phản ánh tín ngưỡng, tôn giáo thấm vào tận cùng máu thịt mỗi người từ thuở ấu thơ.
Mảng truyện kể dân gian này đưa ru tâm hồn con người muôn đời bằng giá trị đặc sắc và phương thức lưu truyền độc đáo của nó. Truyện kể dân gian phản ánh tín ngưỡng, tôn giáo vùng văn hóa tâm linh Tây Yên Tử không chỉ tồn tại trong tâm thức dân gian mà còn tồn tại trong mối quan hệ sinh tử với những giá trị vật thể hữu hình - nơi các di tích lịch sử và danh thắng trên khắp các bản làng, các làng quê từ miền núi cao Sơn Động, Lục Ngạn đến vùng đồi thấp Lục Nam, Yên Dũng.
Vùng đất này mang đậm màu sắc tín ngưỡng dân gian như tín ngưỡng thờ nhân thần, tín ngưỡng thờ nhiên thần. Nhóm truyện kể dân gian phản ánh tín ngưỡng thờ thiên thần đã tập trung phản ánh tín ngưỡng về vùng đất thiêng, về những nhân vật kì vĩ, chinh phục thiên nhiên, dời non lấp vực mở rộng đất đai. Các nhân vật này có nguồn gốc từ những đấng sáng tạo thế giới bằng sức mạnh phi thường trong thần thoại nhưng càng về sau càng gần gũi với con người bình thường và được truyền thuyết hóa một cách mạnh mẽ. Nó cũng thể hiện xu hướng biến đổi nhân vật từ thiên thần sang nhân thần, từ thần thoại sang truyền thuyết.

Xoay quanh những nhân vật gắn liền với Yên Tử, có rất nhiều truyền thuyết dân gian hấp dẫn.
Ở nhóm truyện kể dân gian phản ánh tín ngưỡng thờ nhân thần, những nhân vật được tôn vinh ở đây có công chinh phục thiên nhiên mở đất, mở nước, lập ấp, lập làng hay tu sửa đình miếu và đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Những nhân vật được tôn vinh này gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu và thờ Thành hoàng ở các địa phương trong vùng. Truyền thuyết dân gian thể hiện sự hòa quyện giữa tôn giáo và tín ngưỡng tạo nên một nét văn hóa rất độc đáo gắn với hệ thống đình, chùa, đền, miếu tọa lạc trên nhiều làng quê.
Dường như mỗi nhân vật, mỗi ngôi chùa, mỗi cội cây ở vùng đất Yên Tử cũng đã là một pho truyền thuyết, đều thể hiện cách nhìn, cách nghĩ và lẽ sống của dân gian. Trải qua thời gian, các yếu tố kì ảo, hoang đường trong những câu chuyện xưa vẫn được người dân lưu truyền, kể lại từ đời con sang đời cháu với niềm tin dân gian mãnh liệt vào những điều huyền diệu gắn với hồn thiêng sông núi. Điều đó, góp phần tạo cho Yên Tử một bề dày lịch sử với nhiều huyền thoại, truyền thuyết huyền bí, linh thiêng được nhân dân tôn kính lưu truyền, là địa điểm tâm linh để người dân cả nước, khách du lịch nước ngoài đến tham quan, chiêm bái








